Bài viết mục đích có cái nhìn tổng quan về giáo dục phổ thông ở Hồ Chí Minh, từ đó dựa trên điều kiện kinh tế, khả năng học tập, sở thích cá nhân và xu hướng quốc tế, hội nhập để có sự chuẩn bị tốt cho con.

1. Giáo dục công lập

Công lập tức là về cơ cấu tài chính vẫn do ngân sách nhà nước chi trả (nhà nước đầu tư về cơ sở vật chất, trả lương cho giáo viên, cấp kinh phí hằng năm cho hoạt động giáo dục …). Chương trình học công lập theo quy định/chuẩn đầu ra của Bộ GD&ĐT Việt Nam. Giáo dục công lập cũng là quyền lợi mà bất cứ công dân nào đóng thuế đều xứng đáng được thụ hưởng.

1.1 Tiêu chuẩn đánh giá

Bộ tiêu chuẩn đánh giá (Thông tư số 17/2018/TT-BGDDT):

  • Kiểm định chất lượng giáo dục (KĐCLGD): đánh giá về chuyên môn, chất lượng (cấp 1 - cơ bản nhất, cho tới cấp 4 - xuất sắc là mức cao nhất)
  • Chuẩn quốc gia: là đánh giá về mặt hành chính, tổ chức (có 2 mức độ là chuẩn quốc gia mức độ 1 - cơ sở vật chất tốt, chất lượng khá và chuẩn quốc gia mức độ 2, cơ sở vật chất hiện đại, chất lượng vượt trội).

Mặc dù không liên quan nhau, nhưng 2 bộ tiêu chuẩn này lại có ràng buộc nhau, ví dụ:

  • Chuẩn quốc gia mức độ 1, thì kiểm định chất lượng phải đạt mức 2
  • Chuẩn quốc gia mức độ 2, thì yêu cầu kiểm định chất lượng phải đạt mức 3

Đây là bộ tiêu chuẩn chung, áp dụng cho toàn quốc chứ không riêng một địa phương nào. Dựa trên bộ đánh giá trên, có thể tạm chia trường công lập làm 3 loại:

  • Trường công lập thông thường
  • Trường công lập đạt chuẩn quốc gia mức độ 1
  • Trường công lập đạt chuẩn quốc gia mức độ 2

Ở TP HCM, đáp ứng nhu cầu và xu hướng hội nhập, một mô hình đặc thù được đưa vào thí điểm là “Trường tiên tiến, hội nhập quốc tế”. Đây là mô hình giáo dục chất lượng cao, với các tiêu chuẩn cao từ sĩ số, cơ sở vật chất, giáo viên, đầu ra, được triển khai thí điểm từ năm 2016 và nhân rộng lên 70 trường ở tất cả các cấp (nhưng đang gặp vấn đề về khung pháp lý). Là mô hình kết hợp giữa ngân sách nhà nước và cam kết tự nguyện của phụ huynh, nên học phí sẽ cao hơn các trường công lập thông thường (ví dụ sĩ số <35/lớp, 100% bán trú, 80% giáo viên giỏi cấp trường, 100% giáo viên có khả năng giao tiếp tiếng Anh, CNTT, chuẩn tiếng Anh/tin học đầu ra theo quốc tế[1])

1.2 So sánh

Nhìn ở góc độ địa bàn tuyển sinhtiêu chí xét tuyển, cơ bản sẽ chỉ có:

  • Trường công lập thông thường hoặc trường công lập chuẩn quốc gia mức độ 1.
  • Trường công lập chuẩn quốc gia mức độ 2.
  • Trường tiên tiến, hội nhập quốc tế (đặc thù HCM và một số thành phố lớn) (tuy vậy điều kiện để là một trường tiên tiến thường ít nhất phải đạt chuẩn quốc gia cấp độ 1 và kiểm định chất lượng mức độ 2).
Tiêu chíTrường Công lập thông thườngTrường Chuẩn quốc gia (Mức độ 2)Trường Tiên tiến, Hội nhập quốc tế
1. Phạm vi xét tuyểnRất hẹp: Theo địa bàn cư trú thực tế (tổ, khu phố, phường) qua hệ thống GIS.Hẹp: Ưu tiên cư trú tại phường hoặc cụm phường lân cận nơi trường đóng điểm.Rộng: Tuyển sinh toàn Quận/Huyện hoặc Thành phố (đối với TP. Thủ Đức).
2. Yêu cầu đầu vàoĐủ 6 tuổi, có dữ liệu trên trục dân cư. Không xét năng lực.Đủ 6 tuổi; Ưu tiên thời gian cư trú dài hạn (hộ khẩu thường trú lâu năm, do tỉ lệ chọi cao).Đủ 6 tuổi; Đăng ký tự nguyện.Thường yêu cầu chứng chỉ Tiếng Anh (Starters/Movers) hoặc thi đầu vào.
3. Hồ sơ tài chínhHồ sơ phổ thông. Không yêu cầu cam kết tài chính.Hồ sơ phổ thông. Không yêu cầu cam kết tài chính.Bắt buộc ký Bản cam kết tự nguyện đóng phí mô hình tiên tiến
4. Sĩ số lớp40 - 50 học sinh/lớp (áp lực lớn tại các quận đông dân).Tối đa 35 học sinh/lớp (Quy định bắt buộc của Bộ GD&ĐT).Dưới 30 học sinh/lớp (Tối đa 35) để tăng tương tác.
5. Cơ sở vật chấtĐáp ứng tối thiểu. Có thể dùng chung các phòng chức năng.Rất tốt: Đầy đủ phòng Lab, Nghệ thuật, Thư viện đạt chuẩn, Nhà đa năng. (có thể trường có hội PH, đồng thuận thu ngoài ngân sách lắp máy lạnh)Hiện đại nhất: 100% phòng máy lạnh, bảng tương tác, phòng Lab chuyên biệt, hồ bơi/sân cỏ.
6. Tiếng Anh4 tiết/tuần (theo CT 2018). Đầu ra đạt chuẩn bậc 1 theo khung năng lực.CT của Bộ + Tiếng Anh tăng cường. Đầu ra đạt khá/giỏi theo khung năng lực.Intensive: Học với GV bản ngữ; Đầu ra cam kết chuẩn Cambridge (Starters/Movers/Flyers).
7. Chương trình họcChương trình phổ thông 2018 của Bộ GD&ĐT.CT 2018 + Các CLB năng khiếu và hoạt động giáo dục toàn diện.CT 2018 + STEAM, Kỹ năng sống, Tin học quốc tế, thí điểm dạy AI.
8. Chế độ Bán trúTùy điều kiện (nhiều trường chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu).Ưu tiên bán trú 100% hoặc tỉ lệ rất cao do sĩ số thấp.100% học sinh bán trú với thực đơn và tiện ích tốt hơn.
9. Đội ngũ giáo viênĐạt chuẩn trình độ theo Luật Giáo dục.100% đạt chuẩn; Tỉ lệ GV dạy giỏi các cấp cao (trên 30%).GV đạt chuẩn + Có chứng chỉ Ngoại ngữ/Tin học quốc tế và kỹ năng ứng dụng AI.

Trước đây xét tuyển theo phường, trở ngại là dù gần trường về vị trí địa lý nhưng thuộc phường khác cũng không được phân tuyến đúng. Hệ thống GIS là bước cải tiến để phân tuyến theo ví trị địa lý (Ví dụ nhà ở P Phú Hữu, nhưng giáp ranh Phước Long B, theo kiểu cũ sẽ phân vào trường của P Phú Hữu, về khoảng cách có thể hơn trường Phước Bình ở Phước Long B).

Tại TP HCM, chương trình Tăng cường tiếng AnhTiếng Anh Tích hợp thực tế được triển khai như những “mảnh ghép” có thể đặt vào bất kỳ loại hình trường công lập nào, từ trường thông thường đến trường tiên tiến.

  • Lớp Tiếng Anh tích hợp: Trường có lộ trình dạy và học các môn Toán, Khoa học bằng Tiếng Anh (theo đề án của Sở GD&ĐT TP.HCM.
  • Lớp Tiếng Anh tăng cường: Dành cho học sinh có nhu cầu phát triển kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ sâu hơn so với chương trình phổ thông.

Đối với mô hình trường tiên tiến hội nhập quốc tế, thường sẽ phải thu thêm phí mô hình với mức là 1.725.000 đồng/học sinh/tháng (2024 - 2025), tuy nhiên hiện tại chương trình này đang phải tạm dừng do chưa hoàn thiện khung pháp lý.

1.3 Tổng chi phí thực tế

Tuy hoạt động dựa trên ngân sách nhà nước, nhưng trường vẫn sẽ có những khoản cần thu: Số: 1888 /SGDĐT-KHTC

  • Học phí (theo cấp và khu vực), ví dụ tiểu học, THCS là 60k/tháng. Nhưng kể từ năm học 2025 - 2026 theo Nghị quyết số 217/2025/QH15, MIỄN HỌC PHÍ.
  • Khoản thu dịch vụ phục vụ, hỗ trợ hoạt động giáo dục theo Nghị quyết số 18/2025/NQ-HĐND - phụ lục 1.
    • Dịch vụ tổ chức phục vụ, quản lý và vệ sinh bán trú
    • Dịch vụ phục vụ ăn sáng
    • Dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng ngoài giờ (ko bao gồm tiền ăn)
    • Dịch vụ khám sức khỏe ban đầu
    • Dịch vụ sử dụng máy lạnh (điện, bảo trì,, thuê máy lạnh …)
    • Dịch vụ tiện ích ứng dụng CNTT
    • Dịch vụ đưa đón
  • Các khoản thu dịch vụ khác trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo theo Nghị quyết số 18/2025/NQ-HĐND - phụ lục 2.
    • Tổ chức dạy tin học tự chọn hoặc theo đề án
    • Tổ chức dạy ngoại ngữ tăng cường, với giáo viên nước ngoài, ngoại ngữ thông qua môn Toán/Khoa Học
    • Tổ chức dạy kỹ năng sống
    • Tổ chức giáo dục STEAM
    • Tiền mua sắm thiết bị, vật dụng phục vụ bán trú
    • Tiền mua sắm đồng phục
    • Tiền học phẩm, học cụ, học liệu
    • Tiền suất ăn bán trú

Các khoản thu sẽ khác nhau giữa các trường, có trường sẽ có khoản thu này, có trường sẽ không có tùy vào chương trình. Phụ huynh cũng có thể lựa chọn sử dụng hoặc không (tự đưa đón thì ko cần dịch vụ đưa đón, tự ăn sáng thì không cần dịch vụ ăn sáng …)

Xét tuyển của trường An Bình theo tiêu chí như sau:

  • Ưu tiên học sinh cư ngụ thực tế tại TP Thủ Đức, thời gian cư ngụ, khoảng cách từ nhà học sinh đến trường không quá xa.
  • Học sinh học trường mầm non thực hiện chương trình CLC.
  • Gia đình học sinh có điều kiện tài chính xuyên suốt 5 năm.
  • Học sinh có năng khiếu, ngoại ngữ, đạt bé khỏe - bé ngoan.
  • Học sinh phát triển bình thường về trí tuệ, ngôn ngữ, hành vi.
  • Hồ sơ theo thứ tự thời gian đăng ký.

1.3 Một số lưu ý:

=> Nếu phụ huynh có ý định cho con theo học cơ sở công lập, việc xác định cho con học trường nào sớm rất quan trọng, trong đó 2 yếu tố quan trọng nhất là:

  • Phạm vi xét tuyển (nếu con ko thuộc địa bàn được xét tuyển, hoặc trường yêu cầu thường trú trên 3 năm thì phải lo trước 3 năm).
  • Yêu cầu đầu vào - tức là trình độ, con phải học tiền tiểu học và có thời gian chuẩn bị ít nhất bao lâu (6 tháng - 1 năm).

Một số lưu ý khác:

  • Chi phí muốn biết chính xác phải tham khảo trực tiếp từ trường, ngoài chi phí của trường, còn cân nhắc tới các khoản cần đóng góp mà ban đại diện cha mẹ học sinh đề ra (hội phụ huynh).
  • Trường công thường gán mác học thuật nặng, kém tiếng Anh, kém các kỹ năng xã hội, kém cá nhân hóa. Mô hình tiên tiến là mô hình thử nghiệm cố gắng giải quyết vấn đề đó bằng nguồn kinh phí tự nguyện của phụ huynh, nhưng nhìn chung vẫn nặng tính học thuật.
  • Công lập luôn có những thử nghiệm giáo dục mang tính ngắn hạn, thiếu nghiên cứu, buộc học sinh phải học những thứ không đúng độ tuổi. Ví dụ Thí điểm dạy AI từ lớp 1 tới lớp 12 WTFFFFFFFF
  • Do tuyển sinh ko xét năng lực, dàn trải, nên có thể trẻ học với nhiều bạn ở nhiều mức độ, hoàn cảnh khác nhau, một vấn đề dễ nhìn thấy là trẻ học từ bạn bè nhiều thói quen, văn hóa khác với hoàn cảnh gia đình (ví dụ trẻ học nói bậy).
  • Nếu cấp 2 có ý định thi một số trường điểm như Trần Đại Nghĩa, PTNK …, yêu cầu học thuật cao, đó là lý do nhiều phụ huynh với định hướng cấp 2 trường điểm vẫn chọn trường công lập.
  • Ưu điểm là con được học tính kỷ luật trong học tập theo nền giáo dục truyền thống VN, vừa giữ gìn được bản sắc văn hóa, vừa đỡ áp lực cho ba mẹ (về cả học phí và kiến thức, về kiến thức nếu chương trình nặng, phụ huynh ko có khả năng kèm/chỉ cho con thì con buộc phải đi học thêm).
  • Một số phụ huynh chọn lựa phương pháp học trường công theo nền giáo dục truyền thống, nhưng giải quyết vấn đề về Tiếng Anh và kỹ năng sống bằng cách học thêm bên ngoài cũng là cách tương đương với mô hình tiên tiến.

2. Giáo dục ngoài công lập

Khái niệm ngoài công lập ở HCM rất hỗn loạn, có rất nhiều nhóm trường, chương trình học, chuẩn đầu ra … khác nhau. Phụ huynh chọn ngoài công lập thường mong muốn con TRÁNH các nhược điểm của trường công lập như đã nói ở trên như:

  • Nặng học thuật, học các môn Toán, Lý, Hóa quá nặng mà tính ứng dụng của các môn học thuật không cao. (nhưng suy nghĩ này không đúng hoàn toàn vì chương trình hệ Anh cũng nổi tiếng nặng)
  • Mong muốn con có kỹ năng tiếng Anh tốt, tiếp xúc sớm (đặc biệt trong thời kỳ hội nhập quốc tế), tránh các lối mòn học tiếng Anh ko giao tiếp được của bame.
  • Phát triển nhân cách, nuôi dưỡng cảm xúc và phát triển cá nhân hóa.
  • Phát triển tư duy sáng tạo, tư duy phản biện và kỹ năng giải quyết vấn đề để chủ động thích nghi.
  • Phát triển đa dạng nhiều mảng từ nghệ thuật, thể thao, văn hóa thay vì chỉ chú trọng vào học thuật.
  • Cấu trúc lớp học ít, cho phép giáo viên quan sát và đánh giá riêng biệt từng học sinh cả về học thuật, kỹ năng, năng khiếu cũng như tâm lí.
  • Cơ sở vật chất khang trang, hiện đại.

Mỗi trường theo đuổi một mục tiêu riêng, được cấp phép và quản lý để hoạt động theo luật doanh nghiệp hoặc luật đầu tư, và đều được thị trường chấp nhận ở các mức độ khác nhau. Do vậy, câu hỏi cha mẹ đặt ra luôn là: những giá trị nhận được có đáng với chi phí đầu tư không.?

Có thể tạm phân loại thành 4 nhóm chính

2.1 Trường tư thục, chương trình Bộ (Moet - chuẩn)

Có nét tương đồng với mô hình “trường tiên tiến hội nhập” của TP Hồ Chí Minh, nhưng vận hành bằng vốn tư nhân (đặc điểm là vẫn học các môn học thuật bằng tiếng Việt và tăng số tiết tiếng Anh).

  • Chương trình giảng dạy: Giảng dạy 100% chương trình của Bộ GD&ĐT Việt Nam (hay thường gọi là hệ chuẩn, chương trình Moet).
  • Đặc điểm: Tăng cường ngoại ngữ (tăng số tiết 8-12 tiết/tuần), chú trọng kỷ luật và kết quả thi đại học trong nước.
  • Chuẩn đầu ra: Bằng tốt nghiệp THPT Việt Nam.

Một số trường tiêu biểu như Nguyễn Khuyến, Trương Vĩnh Ký, Hồng Đức, Duy Tân (Sơn Kim Group) (thường các trường này đa phần chỉ đào tạo cấp THCS - THPT)

2.2 Nhóm trường Song ngữ

Đây là nhóm trường sôi động nhất vì đáp ứng được nhu cầu vừa tăng tiếng Anh, vừa không mất bản sắc, văn hóa, kiến thức Việt Nam (gọi là song ngữ vì thay vì tăng cường tiếng Anh, Anh/Việt sẽ là 50-50 và học một số môn chính bằng tiếng Anh) mà học phí cũng dễ chịu hơn.

  • Chương trình giảng dạy: “Một trường - hai chương trình”. Học sinh sẽ học các môn của Bộ GD&ĐT Việt Nam (đã lược bỏ trùng lặp) kết hợp song song với một chương trình quốc tế (thường Cambridge hoặc Oxford của Anh) -> Nên ta sẽ hay nghe về cụm từ “hệ Cam”.
  • Đặc điểm: Học sinh có thể học các môn Toán, Khoa học bằng Tiếng Anh.
  • Chuẩn đầu ra: Bằng Tốt nghiệp THPT Việt Nam + Chứng chỉ quốc tế (như IGCSE, AS/A Level hoặc IELTS).
  • Ví dụ tiêu biểu: Vinschool, Việt Úc (VAS) - hệ Cambridge, Wellspring, Tuệ Đức (Pathway), Anne Hill, ICS (nhưng ICS chọn Oxford và chú trọng vào niềm vui học tập/kỹ năng sinh tồn).

Song bằng tức là có thể tiếp tục thi đại học ở VN hoặc thi trực tiếp vào các trường đại học công nhận chứng chỉ quốc tế.

Nhược điểm là học 2 chương trình, song bằng thì khá mệt và phải cắt bớt chương trình Moet để tăng cường tiếng Anh nên nếu thi chuyển cấp vào các trường công điểm sẽ hơi mệt. Theo trải nghiệm của các phụ huynh Hội phụ huynh các trường quốc tế tại Việt Nam ✅ thì học song ngữ nặng hơn trường công

2.3 Nhóm Trường Quốc tế

Nhóm này giảng dạy hoàn toàn theo chương trình nước ngoài, tiếng Anh là ngôn ngữ giao tiếp chính 100% (thường được gọi là trường/hệ đơn ngữ). Nhóm này sẽ được phân loại theo chương trình học của quốc gia nào (ta sẽ gọi là hệ).

a. Hệ Anh (British)

  • Đặc điểm: Kiến thức chuyên sâu, phân hóa môn học sớm, yêu cầu 3-4 môn thế mạnh.
  • Lộ trình: Key Stages → IGCSE (lớp 10) → A-Level (lớp 12, A level tự thân nó là một bằng tốt nghiệp).
  • Ưu điểm: Bằng A-Level được coi là “tấm vé vàng” vào các đại học danh tiếng thế giới, đặc biệt là khối Commonwealth.
  • Ví dụ: BIS (British International School), BVIS.

Hệ Anh, trẻ đi học lớp 1 từ năm 5 tuổi (trong khi ở VN 6 tuổi học lớp 1). IGCSE có thể hiểu là trung học cơ sở mở rộng (nhưng khác VN, giai đoạn này chỉ 2 năm tương đương lớp 9 và 10).

b. Hệ Mỹ (American)

  • Đặc điểm: Linh hoạt (rộng thay vì sâu), đề cao tính cá nhân và các hoạt động ngoại khóa. Sử dụng hệ thống tín chỉ.
  • Lộ trình: Common Core → Advanced Placement (AP - dự bị đại học) hoặc lớp 12 lấy bằng High School Diploma (tích lũy tín chỉ, ko thi).
  • Ví dụ: SSIS (Saigon South), TAS (The American School), ISHCMC-American.

c. Hệ Tú tài Quốc tế (IB)

  • Đặc điểm: Đây không thuộc riêng quốc gia nào mà là chương trình toàn cầu. Được đánh giá là khó và danh giá nhất hiện nay.
  • Lộ trình: PYP (Tiểu học) → MYP (Trung học) → IB DP (Tú tài - 2 năm cuối).
  • Ví dụ: ISHCMC, AIS, EIS.

Ngoài 3 hệ trên, có một số nhỏ các trường theo các hệ của một số quốc gia khác như Đức, Nhật, New Zelance … nhỏ qua thôi khỏi nhắc

Tuy nhiên, thuật ngữ “Quốc tế” chỉ là cách gọi cho dễ hiểu, chứ không phải trường nào có chữ quốc tế cũng là trường quốc tế. Trường cần được đánh giá dựa trên các tổ chức kiểm định quốc tế có uy tín như CIS (hội đồng các trường quốc tế), NEASC (Hiệp hội các trường vùng New England, Hoa Kỳ) và COBIS (Hội đồng các trường quốc tế Anh).

Đặc điểm chung của nhóm này là do học theo chương trình nước ngoài, bằng cấp tương đương, nên có thể đủ điều kiện để thi vào các trường đại học ở các quốc gia đó. (Bằng THPT không đủ điều kiện, thường đi bằng con đường xin học bổng du học). Nên nhìn chung, học các hệ này là 100% xác định đi du học. Và vì tiếng Anh là ngôn ngữ 100% nên con sẽ có xu hướng ít dùng tiếng Việt, văn hóa/cư xử như văn hóa phương Tây (đây vừa là lợi thế, vừa là nhược điểm).

Ngoài các nhóm trên, sẽ có một số trường khá đặc biệt, khó xếp vào nhóm nào. Ví dụ:

THCS và THPT Đinh Thiện Lý (Lawrence S. Ting School - LSTS)

  • Trường vận hành theo mô hình phi lợi nhuận, được PMH xây dựng với mục tiêu cung cấp dịch vụ cho cư dân PMH.
  • Trường chỉ dạy chương trình Việt Nam, với chuẩn đầu ra là bằng THPT mà không yêu cầu song bằng như các trường song ngữ.
  • Trường có cơ sở vật chất hiện đại, phương pháp giảng dạy đổi mới, sáng tạo.
  • Phương thức xét tuyển khó (Yêu cầu tổng điểm Toán, Tiếng Việt cuối năm lớp 4 và 5 phải đạt từ 36 điểm trở lên), tỉ lệ chọi rất cao.
  • Học phí từ 140tr - 185tr / năm (lớp 6 tới - 12). Là mức học phí khá mềm so với chất lượng và CSVC, đây cùng là một trong các lí do khiến trường này rất khó vào.

Trường SIC (Saigon International College), hay tên đầy đủ là Trường THPT Quốc tế Việt Úc, là một trường hợp “độc nhất vô nhị” trong hệ thống giáo dục tại TP.HCM.

  • Đây là trường công lập nhưng giảng dạy 100% chương trình nước ngoài. Đây cũng là THPT công lập duy nhất hoạt động theo mô hình này được UBND TP HCM thành lập và thuộc sự quản lý của Sở GD&ĐT nhưng vận hành theo mô hình tự chủ tài chính.
  • Giảng dạy theo chương trình WACE (Western Australian Certificate of Education) (hệ Tây Úc) nhưng có bổ trợ vài môn văn hóa Văn, Sử … không lấy bằng THPT
  • Chuẩn đầu ra là bằng Tú tài bang Tây Úc
  • Ngôn ngữ: 100% bằng tiếng Anh với giáo viên bản ngữ
  • Học phí dễ thở (do công lập)

Trường SSIS (Saigon South International School), quốc tế Nam Sài Gòn: Là trường hợp đặc biệt khác, trường tuyên bố phi lợi nhuận, và do công ty Phú Mỹ Hưng thành lập để cung cấp dịch vụ trường học cho cư dân Phú Mỹ Hưng (có đông người ngoại quốc), SSIS là một trong số ít những trường quốc tế được xem là “thực sự quốc tế” theo mọi khía cạnh của định nghĩa trường quốc tế. Sứ mệnh của trường không phải là phục vụ mục tiêu kinh doanh giáo dục của Phú Mỹ Hưng, mà là hoàn thiện chất lượng sống của cư dân mua/thuê nhà Phú Mỹ Hưng, nên trường không phải là “nồi cơm” chính của Phú Mỹ Hưng. Trường có mức độ đầu tư về CSVC, hệ thống tài nguyên giảng dạy học tập, trải nghiệm chất lượng rất cao, học phí rất mắc.

2.4. Biến thể

Không phải lúc nào các trường hệ Anh, cũng sẽ học tới A Level. Sẽ có một biến thể bằng cách kết hợp giữa chương trình của Anh ở giai đoạn trung học cơ sở (thường là IGCSE) và sau đó chuyển sang Tú Tài Quốc Tế (IBDP). Lí do là:

  • Dạy IB xuyên suốt từ mầm non (PYP), trung học (MYP) đến tú tài (DP) đòi hỏi học sinh có khả năng tự học và tư duy dự án rất sớm.
  • IGCSE thường có nền tảng học thuật tốt hơn so với IB MYP.
  • A Level rất tốt để vào các đại học ở Anh nhưng IBDP lại có lợi thế toàn cầu đặc biệt là ở Mỹ, Canada và các nước châu Âu khác.

Nên mô hình kết hợp của IGCSE + IB là mô hình cân bằng: giai đoạn lớp 9-10 được rèn luyện kỷ luật học tập kiểu truyền thống (hệ Anh), còn lớp 11-12 mới bung tỏa tư duy sáng tạo và nghiên cứu (hệ IB).

Một số trường tiêu biểu theo mô hình này:

  • BIS (British International School): Anh ròng → IGCSE → IBDP.
  • AIS (Australian International School): Cambridge → IGCSE → IBDP.
  • Renaissance International School: Cambridge → IGCSE → IBDP.

2.4 Tổng chi phí thực tế

Bảng so sánh chi phí chỉ mang tính chất tham khảo để có cái nhìn tổng quan. Chi phí có thể phát sinh nhiều khoản khác nhau như phí kiểm tra đầu vào, ghi danh, phí nhập học một lần (sẽ ko liệt kê) hoặc các khoản ẩn cụ thể của từng trường. Bảng so sánh chọn lớp 1 và chi phí của một năm đóng một lần tham khảo tại thời điểm 2026, tổng chi phí có thể cao hơn (tăng theo từng năm).

TrườngHọc phíCSVC và học phẩmTiền Ăn/bán trúĐồng phụcXe đưa đón (tùy khoảng cách)Tổng/năm
Anne Hill103.000.0003.500.00016.200.000~1.000.00014.000.000 - 30.000.000~150.000.000
Vinschool - Chuẩn~73.000.000~7.000.000~17.000.000~2.000.00021.0000.000 - 48.000.000~129.000.000
Vinschool - Cam136.000.000ntntntnt~192.000.000
Việt Úc - VAS (Sala)216.100.0005.000.00032.992.00018.000.000 - 60.000.000~300.000.000
Wellspring225.680.000~4.000.00024.660.0001.700.00023.000.000 - 31.000.000~279.000.000
ICS126.900.0004.500.00020.000.000
BISchưa rõ648,100,000 - 724,100,000
BVISchưa rõ472.800.00
SSISchưa rõ702,700,000
AISchưa rõ566,000,000
TAS330,400,00025,800,00013,900,000 - 43.000.000~350.000.000 - 540,500,000
eSchool - QT279.000.00015.000.000 (1 lần)22.000.0004.000.000 - 13.000.000~310.000.000
eSchool - Song ngữ204.000.00015.000.000 (1 lần)22.000.0004.000.000 - 13.000.000~236.000.000

Một vấn đề đặc biệt lưu ý là khi theo học ngoài công lập (đặc biệt nhóm đơn ngữ), cần quan tâm đến học phí từ 1 - 12. Vì rất nhiều trường học phí ở các lớp 11, 12 là vô cùng đắt đỏ.

  • Học phí năm 2025 - 2026 tại ISHCMC: lớp 11 và 12 từ 931 triệu lên 959 triệu đồng.
  • Học phí 2025 - 2026 tại Trường Quốc tế Anh BIS HCMC: 956,3 triệu đồng/năm (cho học sinh lớp 12-13).
  • Học phí 2025 - 2026 tại Trường Quốc tế Nam Sài Gòn (SSIS) lên đến 882,2 triệu đồng (lớp 11-12).

3. Thuật ngữ:

  • Cambridge là chương trình Anh quốc tế hóa, được phát triển bởi Hội đồng Khảo thí Quốc tế Cambridge và đem ra ngoài
  • British là chương trình Anh, khác với Cambridge là chương trình này ít quốc tế hóa.
  • Checkpoint là kỳ thi đánh giá năng lực (giống chuyển cấp) trong chương trình Cambridge
  • Preschool = mầm non, Primary = tiểu học
  • BIS (British International School) và BVIS (British Vietnamese International School) có mối quan hệ gần và chung tổ chức giáo dục Nord Anglia. BIS thuộc nhóm quốc tế hệ Anh, BVIS có thêm yếu tố Việt Nam, có thể xếp vào nhóm song ngữ nhưng có thể xem tiếng Việt là ngôn ngữ tăng cường

4. Một số trường gần Safira

Công lập:

  • Trường tiểu học Phú Hữu - đúng tuyến
  • Trường tiểu học Phước Bình - trái tuyến, Phường Phước Long
  • Trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi - trái tuyến
  • Trường tiểu học Bình Trưng Đông - trái tuyến
  • Trường tiểu học An Bình - tiên tiến hội nhập, tuyển sinh toàn quận
  • Trường tiểu học Lê Văn Việt - tiên tiến hội nhập, tuyển sinh toàn quận
  • Trường tiểu học Nguyễn Thị Tư - tiên tiến hội nhập, tuyển sinh toàn quận Tư thục:
  • Việt Úc ( VAS)
  • I Can School ( ICS)
  • Eschool
  • Vin Q9

5. Tham khảo

Bài viết dựa trên một số nguồn tham khảo từ: